Tư duy và giải quyết vấn đề lâm sàng
Bài này mình dịch từ phần đầu của cuốn Case Files: Internal medicine hồi năm 4 (lúc đó rất mê Nội khoa), điều ngạc nhiên là lên Y5 sách Các trường hợp lâm sàng thường gặp trong Lão khoa của trường cũng có viết phần này.
I. TIẾP CẬN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LÂM SÀNG (Approach to Clinical Problem Solving)
4 bước để giải quyết vấn đề lâm sàng 1 cách có hệ thống:
1)
Thiết
lập chẩn đoán
2)
Đánh
giá độ nặng của bệnh (giai đoạn)
3)
Đưa
ra điều trị dựa trên giai đoạn bệnh
4)
Theo
dõi đáp ứng điều trị của bệnh nhân
1. Thiết lập chẩn đoán
3 bước thiết lập chẩn đoán:
1) Thu
thập thông tin với các chẩn đoán phân biệt trong đầu: hỏi bệnh sử, thăm khám → xác định các chẩn đoán và đi tìm các
triệu chứng có hay không phù hợp với chẩn đoán - "You find what you
are looking for".
2) Xác
định các bất thường khách quan với độ đặc hiệu cao nhất: chuyển từ than phiền chủ quan của bệnh
nhân thành những bất thường khách quan, như bệnh nhân đến khám vì phù chân (chủ
quan-không đặc hiệu), CLS thấy suy thận, nước tiểu có trụ hồng cầu gợi ý viêm
cầu thận → vấn đề
đặc hiệu hơn là viêm cầu thận → xem xét các chẩn đoán phân biệt của viêm cầu thận hơn là chẩn đoán phân biệt của
phù chân.
3) Tìm
những đặc điểm phân biệt để thu hẹp chẩn chẩn đoán phân biệt: cần kiến thức nền tảng về các đặc điểm
điển hình của bệnh, ví dụ bệnh nhân có sốt và ho đàm, hình ảnh thâm nhiễm đỉnh
phổi 2 bên và tạo hang trên Xquang có tính đặc hiệu cao, gợi ý lao; bên cạnh
lao thì viêm hầu họng xuất tiết (exudative pharyngitis) cũng tạo hình ảnh
Xquang tương tự, nhưng ở đây bệnh nhân không có chảy mũi và ho khan → dùng các đặc điểm phân biệt, yếu tố
nguy cơ và dịch tễ để xem chẩn đoán nào là có khả năng nhất.
Về mặt lâm sàng, để thiết lập 1 chẩn
đoán chính xác cần thời gian, nỗ lực và phụ thuộc nhiều yếu tố như: mức độ
nghiêm trọng của chẩn đoán đang nghi ngờ, giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân,
nguy cơ tiềm ẩn và giá trị của các test chẩn đoán, lợi ích và tác hại của điều
trị theo kinh nghiệm. Ví dụ:
- Bệnh
nhân nam, trẻ tuổi, nhập viện với nhiều nốt 2 bên phổi trên Xquang → khả năng có ung thư di căn → cần thiết phải tích cực theo đuổi chẩn
đoán, có thể phải mở lồng ngực để sinh thiết.
- Bệnh
nhân nam lớn tuổi, có hình ảnh Xquang tương tự nhưng kèm sa sút trí tuệ
Alzheimer tiến triển, nằm liệt giường, không thích hợp với điều trị hóa chất → tốt nhất là không nên làm thêm test chẩn
đoán.
Có thể thấy quyết định như trên rất khó khăn, đòi hỏi kiến thức y khoa vững, cũng như hiểu về tâm tư và hoàn cảnh của bệnh nhân → điều này tạo nên nghệ thuật của y học (The art of medicine)
2. Đánh giá độ nặng của
bệnh
Sau khi chẩn đoán, bước tiếp theo là
đánh giá mức độ (how bad) vì vấn đề điều trị hoặc tiên lượng phụ thuộc rất
nhiều vào giai đoạn bệnh. Ví dụ:
- Hầu
hết ung thư: giai đoạn I-khu trú (localized) → giai đoạn IV-di căn xa (widely
metastatic)
- Suy
tim: nhẹ → trung
bình → nặng dựa
trên mức độ gắng sức gây khó thở.
- Nhiễm
trùng như giang mai: giai đoạn phụ thuộc vào thời gian và tiển trển bệnh như
giang mai nguyên phát, thứ phát, tiền ẩn hay giai đoạn cuối (giang mai thần
kinh).
3. Điều trị dựa trên
giai đoạn
Như nói trên, tiên lượng và điều trị phụ
thuộc rất nhiều vào giai đoạn, như COPD:
- Nhẹ:
giãn phế quản dạng hít khi cần và bỏ thuốc lá
- Nặng:
có thể cần thở Oxy, dãn phế quản thường xuyên và có thể cả Corticosteroid đường
uống
Điều trị cần được được chỉnh theo mức độ
hoặc giai đoạn bệnh, và khi ra quyết định điều trị thì việc xác định mục tiêu
điều trị cũng rất cần thiết. Đa số bệnh nhân tìm đến chăm sóc y tế là muốn triệu
chứng biến mất, nhưng khi bác sĩ đưa ra phương án điều trị, bên cạnh triệu chứng
còn phải quan tâm các vấn đề khác như phòng ngừa các biến chứng sớm-muộn và giảm
tỉ lệ tử vong. Ví dụ: bệnh nhân suy tim đến vì khó thở và phù cần hạn chế muối, lợi tiểu quai và nghỉ
ngơi tại giường có thể giảm triệu chứng, tuy nhiên suy tim tiến triển có tỉ lệ
tử vong cao nên cần cả ACEI và vài thuốc chẹn beta khác để giảm tỉ lệ tử vong.
→ biết được
mục tiêu điều trị là rất quan trọng để bác sĩ lâm sàng có thể theo dõi và hướng
dẫn điều trị: điều trị triệu chứng, phòng biến chứng và giảm tỷ lệ tử
vong.
4. Theo dõi đáp ứng điều
trị của bệnh nhân
Bước cuối cùng của tiếp cận bệnh là theo
dõi đáp ứng điều trị của bệnh nhân → cần ghi lại và theo dõi các đáp ứng
lâm sàng như: đau bụng, ran phổi, sinh hiệu,... tùy bệnh. Các đáp ứng khác có
thể theo dõi bằng hình ảnh như CT scan kích thước hạch sau phúc mạc trên bệnh
nhân hóa trị, hoặc marker PSA ở bệnh nhân hóa trị ung thư tuyến tiền liệt, hoặc
đối với giang mai có thể hiệu giá kháng thể RPR (rapid plasma reagent).
→ phải luôn biết phải làm gì nếu các
marker không đáp ứng như mong đợi à liệu cần từ bỏ hay lặp lại những gì đã
làm, hay theo dõi thêm với các test đặc hiệu hơn?
II. TIẾP CẬN CÁCH ĐỌC SÁCH (Approach to Reading)
Bệnh nhân hiếm khi đến với chẩn đoán rõ
ràng, nên mình cần áp dụng kiến thức SGK vào thực tiễn lâm sàng (học xuôi [triệu chứng → bệnh] và học ngược [bệnh → triệu chứng]), đồng thời khi
đọc sách có mục đích sẽ giúp ghi nhớ nhiều kiến thức hơn → đọc
sách với mục đích trả lời những câu hỏi cụ thể để có tư duy lâm sàng:
1) Chẩn
đoán có khả năng nhất là gì?
2) Bước
tiếp theo nên làm gì?
3) Cơ
chế có khả năng nhất của triệu chứng/bệnh này?
4) Các
yếu tố nguy cơ là gì?
5) Các
biến chứng liên quan quá trình bệnh?
6) Điều
trị như thế nào là tốt nhất?
7) Làm
thế nào để khẳng định chẩn đoán?
1. Chẩn đoán có khả
năng nhất là gì?
Đã nói ở phần trước, có thể tiếp cận
theo các vấn đề lâm sàng thường gặp, như "Nguyên nhân thường gặp nhất
của viêm tụy là sỏi mật và rượu".
Ví dụ: bệnh nhân nữ 28 tuổi, có thai,
đau dữ dội vùng thượng vị lan ra sau lưng, buồn nôn và nôn kèm amylase máu tăng → chẩn
đoán có khả năng nhất là viêm tụy cấp, nguyên nhân nghi sỏi mật (yếu tố nguy
cơ: nữ và có thai), nếu muốn loại bỏ sỏi mật khỏi bệnh cảnh này, người ta sẽ
thêm vài câu như "siêu âm túi mật không thấy sỏi" → lúc này mình sẽ dùng câu" bệnh
nhân viêm tụy mà không có sỏi mật thì nguyên nhân có khả năng nhất là do lạm dụng
rượu". Ngoài 2 nguyên nhân trên còn nhiều nguyên nhân khác của viêm tụy.
2. Bước tiếp theo nên
làm gì?
Đây là 1 câu hỏi khó, vì bước tiếp theo
có thể là chẩn đoán, phân giai đoạn hoặc điều trị. Từ những dữ liệu lâm sàng, cần
xác định mình đang ở giai đoạn nào trong: Make a Dx → Stage the disease → Treat based on stage → Follow response.
Thường mình khai thác bệnh sử, tiền căn
và thăm khám để đưa ra chẩn đoán sơ bộ, nhưng thiếu kĩ năng đưa ra bước xử trí
tiếp theo. Để có được kĩ năng này cần đi lâm sàng nhiều để được hỗ trợ, tự do
đưa ra chẩn đoán theo những gì đã học và nhận feedback. Ví dụ về trình tự tư
duy:
1) Thiết lập chẩn đoán: dựa vào thông tin tui có, tui nghĩ ông A có đau thắt ngực ổn định vì đau ngực sau xương ức khi đi bộ được 3 dãy nhà, nhưng giảm vài phút và với nitroglycerin ngậm dưới lưỡi.
2) Phân giai đoạn bệnh: tui không nghĩ ổng bị nặng do đau không kéo dài quá 5 phút, không đau khi nghỉ hay bị suy tim sung huyết.
3) Điều
trị dựa vào giai đoạn:
do đó, bước tiếp theo là tui điều trị bằng nitroglycerin ngậm dưới lưỡi,
beta-blocker và aspirin khi cần, cũng như thay đổi lối sống.
4) Theo
dõi đáp ứng: tui muốn
theo dõi điều trị bằng cách đánh giá cơn đau của ổng (hỏi mức độ gắng sức có thể
thực hiện mà không đau ngực), nghiệm pháp gắng sức và đánh giá lại sau khi kết
thúc nghiệm pháp.
Với bệnh nhân tương tự, khi các biểu hiện
lâm sàng không rõ ràng có thể thực hiện thallium stress test (chạy trên máy chạy
và tiêm thuốc), hoặc nếu biểu hiện nặng có thể chụp mạch vành.
→ Bước tiếp
theo phụ thuộc vào giai đoạn lâm sàng của bệnh nhân (nếu không ổn, bước
tiếp theo là điều trị), mức độ nghiêm trọng của bệnh (bước tiếp theo có
thể là phân giai đoạn), hoặc tính không chắc chắn của chẩn đoán (bước tiếp
theo là chẩn đoán).
3. Cơ chế có khả năng
nhất của triệu chứng-bệnh này?
Câu này khó hơn thiết lập chẩn đoán, đi lâm
sàng Tim Mạch CR là nghe "Cơ chế, cơ chế là gì, học mà không hiểu mấy cái
căn bản thì nói mấy cái trên trời làm gì?".
Ví dụ: bệnh nhân nữ 18 tuổi đến khám vì
chảy máu mũi nhiều, rong kinh, có chấm xuất huyết, công thức máu bình thường
ngoại trừ tiểu cầu 15,000/mm3" → mình cần xem xét giải thích giảm tiểu cầu
do: phá hủy tiểu cầu qua trung gian miễn dịch, giảm tiểu cầu do thuốc, ức chế tủy
xương và tăng bắt giữ tiểu cầu do cường lách → mình cần học cơ chế bệnh sinh chứ
không chỉ ghi nhớ 1 loạt các triệu chứng, như ca này thay vì nhớ những biểu
hiện điển hình của Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn (ITP: idiopathic
thrombocytopenic purpura), cần hiểu IPT là quá trình tự miễn, cơ thể sản xuất
các kháng thể IgG chống lại tiểu cầu, phức hợp tiểu cầu-kháng thể bị đưa đến
lách. Do bệnh đặc hiệu cho tiểu cầu nên bạch cầu và hồng cầu bình thường. Ngoài
ra giảm tiểu cầu còn do phá hủy quá mức ở ngoại vi nên tủy xương sẽ tăng sản xuất
mẫu tiểu cầu (tiền thân của tiểu cầu). Vì thế điều trị ITP gồm corticosteroid
đường uống để giảm sản xuất kháng thể IgG kháng tiểu cầu, nếu dai dẳng thì cắt
lách.
4. Các yếu tố nguy cơ
là gì?
Hiểu được các yếu tố nguy cơ giúp mình
thiết lập chẩn đoán và xác định diễn giải các test như thế nào.
Ví dụ: 1 bệnh nhan nữ 45 tuổi béo phì với
khó thở khởi phát đột ngột và đau ngực kiểu màng phổi sau phẫu thuật chỉnh hình
gãy xương đùi → bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ thuyên tắc tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi → bác sĩ có thể cho chụp CT mạch máu ngay
cả khi kết quả CT scan thông khí-tưới máu có xác suất thấp.
→ do đó,
nhiều yếu tố nguy cơ giúp phân loại tỉ số khả dĩ (LR) của bệnh: khi xác
suất bệnh trước test cao (LR+), dựa trên các yếu tố nguy cơ, có thể chỉ định
nhiều test đặc hiệu hơn khi test ban đầu âm tính.
5. Các biến chứng liên
quan quá trình bệnh?
Phải hiểu các biến chứng của bệnh để có
thể theo dõi tốt bệnh nhân, đồng thời cũng phải biết cách
can thiệp thích hợp khi các biến chứng xuất hiện.
Ví dụ: mình nên biết biến chứng của tăng
huyết áp mạn có thể ảnh hưởng nhiều cơ quan như não (bệnh não hoặc đột quỵ), mắt
(thay đổi mạch máu), thận và tim → hiểu được các biến chứng giúp mình ý thức
được các nguy cơ ở bệnh nhân.
6. Điều trị như thế nào
là tốt nhất?
Để trả lời câu này, trước hết cần chẩn
đoán chính xác, đánh giá đúng độ nặng của bệnh và xem xét tình hình để có can
thiệp thích hợp. Sinh viên mình cần hiểu rằng "Biết liều dùng chính
xác không quan trọng bằng việc hiểu được thuốc nào là tốt nhất, đường dùng, cơ
chế tác dụng và các biến chứng có thể xảy ra" → rất quan trọng để biện luận chẩn đoán
và đưa ra điều trị. Ta hay bị lỗi là "nhảy luôn sang điều trị"
như kiểu phán đoán ngẫu nhiên, do đỏ chỉ nhận được feedback "đúng-sai" → thực tế
phán đoán mình có thể đúng nhưng lập luận sai, hoặc lập luận có thể hợp lí
nhưng có lỗi nhỏ trong tư duy nên kết luận sai.
Ví dụ, nếu thầy cô hỏi "Điều trị
như thế nào là tốt nhất cho bệnh nhân nam 25 tuổi có vết loét không ấn đau ở
dương vật?" → không nên trả lời ngay là "azithromycin", mà nên lập luận
"Nguyên nhân hay gặp nhất của vết loét không ấn đau nhiễm trùng ở dương vật
là giang mai, thường kèm theo hạch to không ấn đau. Nên điều trị tốt nhất cho bệnh
nhân có thể mắc giang mai là penicillin tiêm bắp (nhưng em muốn khẳng định chẩn
đoán), cần điều trị cho cả bạn tình của bệnh nhân.
7. Làm thế nào để khẳng
định chẩn đoán?
Trong tình huống trên, có thể khẳng định
chẩn đoán bằng huyết thanh học (RPR [rapid plasma reagent] hoặc VDRL [venereal
disease research laboratory]), tuy nhiên có thể có khả năng bệnh nhân mắc giang
mai giai đoạn I nên chưa có đáp ứng kháng thể và xét nghiệm huyết thanh âm
tính. Do đó có thể khẳng định chẩn đoán bằng cách soi kính hiển vi nền đen → biết được hạn chế của các test chẩn
đoán và những biểu hiện của bệnh
sẽ rất hữu ích cho khẳng định chẩn đoán.
